[HỎI ĐÁP BÁC SĨ]: Implant toàn hàm ổn định rồi có ăn được thịt bò, mía và ổi không?

Bài viết được cố vấn chuyên môn bởi

Sau khi Implant tích hợp xương và hàm cố định sau cùng hoạt động ổn định, cô Thu có thể ăn lại phần lớn món ăn thông thường, kể cả thịt bò và ổi nếu điều chỉnh cách chế biến, cắt nhỏ và nhai đều hai bên. Riêng mía, xương, đá lạnh và thực phẩm rất cứng vẫn không nên cắn trực tiếp vì lực bẻ lớn có thể làm mẻ răng, nứt phục hình hoặc lỏng vít dù trụ Implant vẫn còn tích hợp tốt.

Đặng Thị Kim Thu, 60 tuổi – Tây Ninh

Tình trạng: Có thói quen ăn thức ăn dai và cứng, băn khoăn sau khi Implant toàn hàm ổn định có phải kiêng lâu dài hay không.

“Implant toàn hàm sau khi ổn định rồi tôi có ăn được đồ dai như thịt bò, mía, ổi bình thường không hay vẫn phải kiêng mãi?”

Chào Cô Thu, cảm ơn Cô đã gửi câu hỏi về cho Bác sĩ Dr. Care.

Sau khi Implant đã tích hợp ổn định với xương, mô nướu lành tốt và hàm cố định sau cùng được hoàn tất, Cô có thể ăn lại phần lớn món ăn thông thường. Cô không phải ăn cháo, thức ăn xay hoặc kiêng thịt suốt đời.

Tuy nhiên, “ăn uống bình thường” không có nghĩa Cô nên dùng hàm Implant để cắn mọi loại thực phẩm theo cách giống lúc còn răng thật khỏe mạnh. Thịt bò mềm hoặc được cắt nhỏ thường có thể ăn được. Ổi chín có thể ăn nếu cắt thành miếng vừa và nhai bằng răng sau. Riêng mía là thực phẩm vừa cứng vừa nhiều xơ, thường phải dùng răng cửa cắn, kẹp và kéo nên Bác sĩ không khuyến khích Cô nhai trực tiếp, kể cả khi Implant đã ổn định.

Điều cần bảo vệ lâu dài không chỉ là thân trụ nằm trong xương mà còn gồm vít phục hình, khớp nối, thanh bar và dãy răng cố định phía trên. Một lực quá lớn có thể không làm trụ bật khỏi xương ngay, nhưng vẫn có khả năng làm mẻ răng, nứt hàm, lỏng vít hoặc khiến hệ thống chịu lực không đều.

Với Implant toàn hàm, khả năng ăn nhai thường được cải thiện rõ so với hàm tháo lắp vì phục hình được nâng đỡ và giữ ổn định trên các trụ Implant. Sau thời gian thích nghi, nhiều cô chú có thể ăn cơm, rau, cá, thịt và phần lớn món ăn gia đình mà không phải lo hàm xê dịch.

Dù vậy, Bác sĩ vẫn cần phân biệt thực phẩm dai, thực phẩm cứng và thực phẩm tạo lực bẻ. Ba nhóm này không gây áp lực lên phục hình theo cùng một cách.

Nhóm thực phẩmĐặc điểm lực tác độngKhả năng sử dụng sau khi hàm ổn định
Thức ăn dai nhưng mềmCần nhiều chu kỳ nhai nhưng không tạo lực va đập đột ngột.Có thể ăn nếu cắt nhỏ, nhai chậm và phân bố đều hai bên.
Thức ăn cứng, giònTạo lực cao tại một điểm khi phục hình nghiền hoặc làm vỡ thức ăn.Cần hạn chế hoặc làm nhỏ trước; không nên dùng răng để thử độ cứng.
Thức ăn vừa cứng vừa nhiều xơTạo lực kẹp, kéo, xoắn và bẻ, nhất là khi dùng răng trước.Không nên cắn và kéo trực tiếp; mía là ví dụ điển hình.
Vật rất cứng không phải thực phẩm thông thườngLực va đập cao, dễ gây mẻ răng hoặc nứt phục hình.Nên tránh lâu dài, gồm đá lạnh, xương cứng, vỏ hạt và dùng răng mở vật dụng.

Đối với thịt bò, Cô có thể ăn khi Implant và hàm sau cùng đã được Bác sĩ kiểm tra ổn định. Trong thời gian đầu quay lại chế độ ăn bình thường, Cô nên chọn thịt mềm, thái lát mỏng hoặc cắt thành miếng nhỏ thay vì cắn nguyên miếng lớn rồi kéo bằng răng cửa.

Thịt bò hầm, bò kho, bò bằm hoặc phần thịt mềm thường dễ kiểm soát hơn thịt nướng khô, gân bò và khô bò. Nếu một miếng thịt khiến Cô phải nghiến, kéo hoặc nhai rất lâu mới đứt, món đó đang tạo tải lớn hơn cần thiết lên phục hình.

Cô nên đưa thức ăn vào vùng răng sau và nhai đều hai bên. Không nên chỉ dùng một bên vì quen miệng hoặc vì bên kia có cảm giác lạ. Thói quen nhai lệch kéo dài có thể khiến một phía của hàm, vít và khớp cắn chịu lực nhiều hơn.

Ổi không thuộc nhóm phải kiêng hoàn toàn. Cô có thể chọn quả chín vừa, gọt vỏ nếu vỏ cứng, bỏ phần hạt quá cứng và cắt thành lát nhỏ. Cô không nên đưa nguyên quả vào miệng rồi dùng răng cửa cắn một miếng lớn, đặc biệt khi phục hình có phần răng cửa đưa ra trước hoặc có đoạn đòn bẩy dài.

Ổi non, rất cứng hoặc có phần hạt dày nên được hạn chế. Lực cắn vào một điểm nhỏ trên bề mặt cứng có thể gây mẻ vật liệu răng, nhất là khi răng phục hình đã có vùng mòn hoặc vết nứt nhỏ từ trước.

Riêng với mía, lời khuyên của Bác sĩ là không nên cắn trực tiếp bằng hàm Implant toàn hàm. Động tác ăn mía thường gồm cắn xuyên qua lớp vỏ cứng, kẹp chặt bằng răng trước rồi kéo để tách xơ. Đây là lực kết hợp giữa nén, kéo và bẻ, không phải lực nhai thẳng đứng thông thường.

Nếu Cô vẫn muốn thưởng thức, nên dùng nước mía hoặc mía đã được xử lý thành phần nhỏ, mềm và không cần dùng răng để tước vỏ. Ngay cả khi dùng miếng mía nhỏ, Cô cũng không nên nhai xơ cứng kéo dài với mục đích ép hết nước.

Việc Implant tích hợp xương tốt không làm hệ thống trở nên không thể hư hỏng. Thân Implant được neo trong xương, nhưng phục hình phía trên vẫn là một cấu trúc cơ học có giới hạn chịu lực.

Một hàm toàn hàm cố định thường gồm nhiều răng nối với nhau trên khung hoặc thanh bar. Khi Cô cắn vào một vật cứng tại một vị trí nhỏ, lực không chỉ tác động lên chiếc răng tại điểm đó mà còn truyền qua khung, vít, khớp nối và các Implant nâng đỡ.

Nếu lực được phân bố đều và đi theo hướng phù hợp, hệ thống có thể chịu lực ăn nhai thông thường tốt. Nếu lực tập trung, lệch hướng hoặc tạo đòn bẩy ở vùng răng phía sau cùng, nguy cơ mẻ răng, nứt vật liệu hoặc lỏng vít sẽ tăng.

Trên răng thật, chân răng được bao quanh bởi dây chằng nha chu. Hệ thống này vừa cho phép răng có độ đàn hồi sinh lý rất nhỏ, vừa tham gia cảm nhận lực cắn. Implant không có dây chằng nha chu; cảm giác lực được tiếp nhận gián tiếp từ xương, cơ, khớp và các mô xung quanh.

Người mang Implant vẫn có khả năng cảm nhận thức ăn và điều chỉnh lực nhai, nhưng cảm giác không hoàn toàn giống răng thật. Vì vậy, một số cô chú có thể tạo lực lớn lên phục hình mà không nhận ra ngay, nhất là khi ăn vật cứng hoặc có thói quen nghiến răng.

Đây là lý do Bác sĩ không chỉ kiểm tra trụ Implant mà còn phải kiểm tra khớp cắn định kỳ. Một điểm chạm cao hơn các vị trí còn lại có thể nhận lực lặp lại hàng nghìn lần trong quá trình nhai, nuốt và siết hàm.

Nếu Cô nghiến răng khi ngủ, nguy cơ quá tải còn cao hơn. Lực nghiến thường kéo dài, lặp lại và có hướng trượt ngang. Bác sĩ có thể cần điều chỉnh khớp cắn hoặc chỉ định máng bảo vệ tùy vật liệu phục hình và tình trạng thực tế.

Khả năng ăn uống còn phụ thuộc vào việc Cô đang mang hàm tạm hay hàm sau cùng. Hàm tạm giúp duy trì thẩm mỹ, phát âm và ăn nhai nhẹ trong thời gian Implant tích hợp, nhưng thường không được thiết kế để nhai thức ăn rất cứng hoặc dai.

Tiêu chíHàm tạm trong giai đoạn lành thươngHàm cố định sau cùng
Mục đích chínhHỗ trợ thẩm mỹ, phát âm và ăn nhai có kiểm soát trong thời gian tích hợp xương.Phục hồi chức năng ăn nhai lâu dài sau khi Implant đã ổn định.
Mức lực nên sử dụngĂn mềm, cắt nhỏ và hạn chế lực lớn.Có thể ăn đa dạng hơn, nhưng vẫn cần tránh lực bất thường và vật quá cứng.
Thịt bòChỉ dùng dạng băm hoặc hầm rất mềm.Có thể dùng dạng mềm, thái nhỏ sau khi khớp cắn ổn định.
ỔiChưa nên ăn nếu còn cứng hoặc phải cắn mạnh.Có thể ăn sau khi cắt lát và loại bỏ phần quá cứng.
MíaKhông nên sử dụng.Vẫn không nên cắn và kéo trực tiếp.

Trong thời gian mang hàm tạm, dù Cô đã hết đau và cảm thấy răng rất chắc, Implant vẫn đang trải qua quá trình tích hợp xương. Những phác đồ phục hình sớm chỉ được áp dụng khi trụ đạt độ ổn định ban đầu phù hợp, các trụ được liên kết chắc và khớp cắn được kiểm soát.

Cô không nên tự thử độ chắc bằng cách ăn mía, nhai hạt hoặc cắn vật cứng. Việc không đau khi thử một lần không chứng minh hệ thống có thể chịu tải đó lặp đi lặp lại mà không gặp biến chứng.

Thông thường, chế độ ăn mềm được duy trì trong những tuần đầu. Sau các mốc kiểm tra, Bác sĩ mới cho phép tăng dần độ đặc của thức ăn. Chỉ khi phim kiểm tra, mô quanh Implant, độ ổn định của trụ và khớp cắn đáp ứng tốt, Cô mới nên trở lại chế độ ăn gần bình thường.

Khi hàm sau cùng được gắn, Cô cũng cần một khoảng thời gian thích nghi. Cơ nhai, lưỡi và khớp thái dương hàm đã quen với tình trạng mất răng hoặc hàm tháo lắp trước đó nên không nên tăng lực đột ngột ngay trong ngày đầu.

Cô có thể bắt đầu từ cơm, cá, trứng, rau củ mềm và thịt thái nhỏ. Sau đó, tăng dần sang thực phẩm chắc hơn theo cảm giác và hướng dẫn của Bác sĩ. Nếu một món gây đau, phát tiếng động hoặc làm Cô phải dùng lực quá mạnh, nên dừng lại thay vì cố tiếp tục.

So với bắc cầu răng sứ trên răng thật, Implant toàn hàm không cần mài nhiều răng thật làm trụ và có thể phục hồi toàn bộ cung hàm khi răng đã mất hoặc không còn khả năng bảo tồn. Tuy nhiên, cả hai loại phục hình đều có thể mẻ sứ, nứt vật liệu hoặc gặp vấn đề khi phải chịu lực bất thường.

Cầu răng sứ được nâng đỡ bởi các răng trụ thật, còn phục hình toàn hàm được nâng đỡ bởi các Implant và thanh bar. Vì cấu trúc nâng đỡ khác nhau, cách bảo trì và kiểm tra cũng khác nhau, nhưng nguyên tắc chung vẫn là không dùng phục hình để cắn vật vượt quá chức năng ăn nhai thông thường.

Tiêu chíBắc cầu răng sứImplant toàn hàm
Bộ phận nâng đỡCác răng thật được sửa soạn làm trụ cầu.Các trụ Implant được liên kết bằng phục hình cố định và thanh bar.
Khả năng ăn nhaiPhụ thuộc sức khỏe răng trụ, chiều dài cầu và khớp cắn.Có thể phục hồi chức năng toàn cung hàm khi trụ và phục hình ổn định.
Nguy cơ khi ăn vật quá cứngMẻ sứ, bong cầu, tổn thương hoặc nứt răng trụ.Mẻ răng, nứt phục hình, lỏng vít hoặc quá tải hệ thống Implant.
Thói quen nên tránhNhai đá, cắn xương, mở nắp chai và cắn vật cứng.Các thói quen tương tự, đồng thời tránh cắn và kéo thực phẩm như mía bằng răng cửa.

Vật liệu phục hình sau cùng cũng ảnh hưởng đến cảm giác ăn nhai và dạng biến chứng có thể gặp. Hàm nhựa trên thanh bar thường có khả năng hấp thu lực nhất định và thuận lợi hơn khi cần sửa chữa từng răng, nhưng mặt răng có thể mòn hoặc sứt theo thời gian.

  • Hàm sứ có độ cứng, khả năng giữ màu và chống mòn tốt hơn, nhưng khi chịu lực tập trung quá mức vẫn có thể mẻ hoặc nứt. Vật liệu cứng không đồng nghĩa với việc Cô có thể nhai đá, cắn xương hoặc ăn mía tùy ý.

  • Khung CAD/CAM được gia công từ dữ liệu số có ưu điểm về độ chính xác và tính đồng nhất. Khi khung đạt độ khít thụ động, lực có điều kiện phân bố ổn định hơn trên các trụ. Tuy vậy, độ chính xác của khung không loại bỏ nguy cơ quá tải do khớp cắn sai, nghiến răng hoặc thói quen ăn vật quá cứng.

Tại Dr. Care, sau khi Implant tích hợp, dữ liệu quét và các bước thử phục hình giúp Bác sĩ kiểm tra vị trí răng, chiều cao khớp cắn, thẩm mỹ, phát âm và khả năng phân bố lực trước khi hoàn tất hàm sau cùng. Sau khi gắn, Cô cần tái khám để điều chỉnh nếu xuất hiện điểm cộm hoặc vùng chạm mạnh.

CT Cone Beam 3D được sử dụng ở giai đoạn chẩn đoán, lập kế hoạch và khi cần đánh giá cấu trúc xương quanh Implant. Hệ thống định vị DCARER Navigation có thể hỗ trợ Bác sĩ kiểm soát hướng và vị trí đặt trụ trong những ca phù hợp, giúp Implant được bố trí theo kế hoạch phục hình và hạn chế các vị trí tạo đòn bẩy không cần thiết.

Tuy nhiên, máy móc chỉ hỗ trợ việc chẩn đoán và thực hiện kế hoạch. Độ bền lâu dài vẫn phụ thuộc vào chất lượng xương, tay nghề điều trị, thiết kế phục hình, kiểm soát khớp cắn, vệ sinh và thói quen sử dụng của Cô.

Việc chọn All-on-4 hay All-on-6 cũng không nên dựa trên suy nghĩ càng nhiều trụ thì càng được ăn cứng. All-on-6 có thêm điểm nâng đỡ và có thể thuận lợi cho phân bố lực ở một số trường hợp, nhưng chỉ định còn tùy thể tích xương, vị trí xoang, dây thần kinh, khoảng phục hình và tương quan hai hàm.

Một hàm All-on-4 được lập kế hoạch đúng, các trụ phân bố phù hợp và khung phục hình đủ cứng vẫn có thể phục hồi chức năng ăn nhai hiệu quả. Ngược lại, dù có sáu trụ, hệ thống vẫn có thể gặp biến chứng nếu khớp cắn quá tải hoặc Cô thường xuyên nhai vật rất cứng.

Lựa chọn dòng Implant cũng không nên dựa trên mục tiêu được ăn mía hoặc thực phẩm cứng sớm hơn. Đặc tính vật liệu, bề mặt và thiết kế trụ có vai trò trong độ ổn định ban đầu và tích hợp xương, nhưng không làm các bộ phận phục hình phía trên trở nên không thể mẻ hoặc lỏng.

Theo bảng giá trồng răng đang áp dụng, chi phí phần Implant của một hàm được tham khảo như sau:

Dòng ImplantAll-on-4 một hàmAll-on-6 một hàmBảo hành trụ
Neodent109.000.000 VNĐ158.000.000 VNĐ20 năm
JDental Care hoặc Straumann SLA129.000.000 VNĐ188.000.000 VNĐ25 năm
Nobel Active hoặc Straumann SLActive149.000.000 VNĐ218.000.000 VNĐ30 năm

Các mức trên là chi phí phần Implant của một hàm, đã bao gồm VAT và chưa bao gồm phục hình cố định sau cùng. Phần hàm sau cùng được lựa chọn theo nhu cầu chức năng, thẩm mỹ, khả năng bảo trì và mức tài chính của Cô.

Loại phục hình sau cùngAll-on-4 một hàmAll-on-6 một hàm
Hàm nhựa cố định Justy trên thanh bar đúc30.000.000 VNĐ36.000.000 VNĐ
Hàm nhựa cố định Justy trên thanh bar CAD/CAM44.000.000 VNĐ49.000.000 VNĐ
Hàm sứ cố định trên thanh bar đúc54.000.000 VNĐ59.000.000 VNĐ
Hàm sứ cố định trên thanh bar CAD/CAM74.000.000 VNĐ79.000.000 VNĐ

Cô không nên chọn hàm sứ chỉ vì nghĩ sứ sẽ chịu được mọi loại thức ăn cứng. Bác sĩ sẽ xem khớp cắn, lực cơ, thói quen nghiến răng, khoảng phục hình và khả năng vệ sinh để tư vấn loại hàm phù hợp.

Sau khi hoàn tất điều trị, việc tái khám định kỳ có vai trò quan trọng đối với khả năng ăn nhai lâu dài. Trong buổi kiểm tra, Bác sĩ đánh giá độ ổn định của phục hình, vít, thanh bar, khớp cắn, vùng mòn, vết nứt, tình trạng mô nướu và mức xương quanh Implant.

Nếu phát hiện điểm chạm quá mạnh hoặc răng có vùng mẻ nhỏ, xử lý sớm thường đơn giản hơn so với để vết nứt lan rộng. Việc Cô vẫn ăn được không đồng nghĩa hệ thống không cần bảo trì.

Cô nên đến kiểm tra sớm nếu hàm phát tiếng “tách”, có cảm giác nhúc nhích, đau khi nhai một món trước đây vẫn ăn được, xuất hiện vùng cộm mới hoặc thường xuyên mắc thức ăn tại cùng một vị trí.

Dấu hiệu khi ănKhả năng cần kiểm traCách xử lý trước mắt
Đau nhói tại một điểm khi cắnĐiểm chạm khớp cắn quá mạnh, mô bị viêm hoặc phục hình có bất thường.Dừng nhai món cứng và đặt lịch kiểm tra.
Hàm phát tiếng “tách” hoặc nhúc nhíchNghi ngờ lỏng vít, mất độ khít hoặc nứt một bộ phận phục hình.Chuyển sang thức ăn mềm, không tự siết hoặc dán hàm.
Xuất hiện cạnh răng sắc hoặc mẻVật liệu mặt răng có thể đã sứt hoặc nứt.Không tiếp tục nhai tại vị trí đó và đến kiểm tra sớm.
Mỏi cơ hàm hoặc đau khớp sau khi ăn daiCơ chưa thích nghi, thức ăn quá dai hoặc khớp cắn chưa cân bằng.Giảm độ dai, cắt nhỏ thức ăn và kiểm tra nếu tình trạng lặp lại.

Vì Cô ở Tây Ninh, các mốc thăm khám và điều trị có thể được sắp xếp theo từng chuyến để hạn chế đi lại không cần thiết. Trước khi đến TP.HCM, Cô có thể gửi phim răng gần nhất, thông tin sức khỏe và danh sách thuốc đang sử dụng để Bác sĩ đánh giá sơ bộ.

Giai đoạnLộ trình phù hợp cho Cô ở Tây Ninh
Trước chuyến thăm khámCô gửi thông tin mất răng, bệnh nền, thuốc đang dùng và phim răng nếu có để Bác sĩ chuẩn bị nội dung cần kiểm tra.
Buổi khám và lập kế hoạchBác sĩ khám khớp cắn, chụp CT Cone Beam 3D, đánh giá xương và tư vấn All-on-4 hoặc All-on-6 cùng vật liệu phục hình phù hợp.
Giai đoạn phẫu thuật và hàm tạmCô tuân thủ chế độ ăn mềm, gửi hình ảnh khi cần và tái khám theo mốc kiểm tra vết thương, vít cùng khớp cắn.
Đánh giá tích hợp xươngBác sĩ kiểm tra phim, mô quanh Implant và độ ổn định trước khi chuyển sang phục hình cố định sau cùng.
Sau khi gắn hàm sau cùngCô được hướng dẫn tăng dần độ cứng của thức ăn, cách cắt thịt và trái cây, đồng thời hẹn bảo trì định kỳ.

Cô có thể đến Dr. Care để Bác sĩ chụp CT, đánh giá khớp cắn, lực cơ và lựa chọn thiết kế phục hình phù hợp với thói quen ăn uống của Cô. Bài tư vấn này chỉ mang tính chất tham khảo vì Bác sĩ chưa có phim CT, chưa biết tình trạng xương, khớp cắn, việc Cô có nghiến răng hay không và loại vật liệu phục hình dự kiến sử dụng.

Nguồn tham khảo
  1. Morton D, Jaffin R, Weber HP. Immediate Restoration and Loading of Dental ImplantsĐồng thuận ITI về điều kiện chịu lực sớm, vai trò của độ ổn định ban đầu, liên kết các trụ, kiểm soát lực nhai và nguy cơ quá tải.
  2. Straumann Group. Straumann Pro Arch CasebookCác ca lâm sàng phục hình toàn hàm, hướng dẫn ăn mềm sau phẫu thuật và theo dõi khớp cắn, độ ổn định của Implant trước khi tăng chức năng.
  3. Mishra SK, Chowdhary R, Chrcanovic BR, Brånemark PI. Osseoperception in Dental Implants: A Systematic ReviewTổng quan về cảm giác lực và khả năng điều khiển vận động ở người sử dụng phục hình trên Implant.
  4. Berzaghi A, Vela X, Canullo L và cộng sự. Occlusion and Biomechanical Risk Factors in Implant-Supported ProsthesesPhân tích vai trò của khớp cắn, lực ngoài trục, nghiến răng và thiết kế phục hình đối với biến chứng cơ học của Implant.
  5. Gaddale R, Mishra SK, Chowdhary R. Complications of Screw- and Cement-Retained Implant-Supported Full-Arch RestorationsTổng quan hệ thống về biến chứng sinh học và kỹ thuật của phục hình toàn hàm trên Implant.
  6. Papaspyridakos P và cộng sự. Zirconia Full-Arch Implant Prostheses: Survival, Technical Complications and Patient-Reported OutcomesDữ liệu theo dõi về độ bền và các biến chứng như mẻ vật liệu hoặc gãy phục hình toàn hàm zirconia.
  7. Alkaya B và cộng sự. Ultrasound Analysis of the Masseter and Anterior Temporal Muscles After Fixed Implant-Supported RehabilitationNghiên cứu cho thấy phục hình cố định trên Implant giúp cải thiện chức năng cơ nhai ở bệnh nhân mất răng toàn hàm.
  8. Dr. Care Implant Clinic. Điều trị Implant toàn hàm All-on-4 và All-on-6Thông tin phương pháp, quy trình điều trị và các phương án phục hình toàn hàm.
  9. Dr. Care Implant Clinic. Bảng giá Implant toàn hàm All-on-4, All-on-6 và vật liệu phục hình sau cùng — Tài liệu áp dụng từ ngày 01/08/2025.

Thông tin liên hệ Nha khoa Dr. Care

Nha khoa chuyên sâu

Trồng răng Implant

Dành riêng cho Cô Chú trung niên tại Việt Nam

Hiện nay, Dr. Care - Implant Clinic là một trong những nha khoa uy tín hàng đầu cung cấp dịch vụ trồng răng Implant chuẩn Y khoa giúp khách hàng phục hồi mất răng hiệu quả và an toàn đáp ứng 3 tiêu chí: Phục hồi khả năng ăn nhai, hoàn thiện thẩm mỹ và đảm bảo sử dụng lâu bền.

Đến nha khoa, Khách hàng được Đội ngũ Bác sĩ dày dặn kinh nghiệm tư vấn tận tâm, cặn kẽ về tình trạng răng miệng. tình trạng mất răng. Bác sĩ sau khi thăm khám kỹ càng sẽ đưa ra giải pháp tối ưu, tiết kiệm và an toàn.

Không chỉ có thế mạnh về chất lượng điều trị, Dr. Care còn không ngừng cập nhật trang thiết bị hiện đại và công nghệ điều trị tối tân hỗ trợ chẩn đoán chuẩn xác, rút ngắn thời gian điều trị, nha khoa với "Liệu pháp trồng răng không đau" cho Khách hàng trải nghiệm trồng răng êm ái, thoải mái như đi spa.

Đặt hẹn với Dr. Care - Implant Clinic để thăm khám, tư vấn và điều trị. Tại đây

(*) Kết quả điều trị có thể khác nhau tùy vào thể trạng mỗi người.

Bài viết cùng chủ đề
img-right-banner
img-right-bannerimg-right-banner